Công bố 2 chỉ số quan trọng về cải cách hành chính

Theo Chinhphu.vn | 24-05-2019 - 19:36 PM

Ảnh: VGP/Lê Sơn

Chiều 24/5, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hoà Bình, Trưởng Ban Chỉ đạo Cải cách hành chính của Chính phủ chủ trì Hội nghị công bố Chỉ số cải cách hành chính và Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính năm 2018.

Tham dự và điều hành Hội nghị có Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Trần Thanh Mẫn; Bộ trưởng Bộ Nội vụ Lê Vĩnh Tân; lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương và các tỉnh, thành phố trong cả nước.

Ngân hàng Nhà nước đứng đầu, ngành giao thông đứng cuối

Chỉ số cải cách hành hính (CCHC) của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (PAR INDEX 2018) được đánh giá ở 18 bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố trong cả nước. Trong đó, Bộ tiêu chí đánh giá, xác định Chỉ số CCHC cấp bộ được cấu trúc thành 7 lĩnh vực đánh giá, 39 tiêu chí và 88 tiêu chí thành phần; cấp tỉnh được cấu trúc thành 8 lĩnh vực đánh giá, 41 tiêu chí, 96 tiêu chí thành phần.

Kết quả PAR INDEX 2018 của khối bộ, ngành cho thấy nhóm thứ nhất đạt kết quả trên 80%, bao gồm 14 bộ, ngành: NHNN Việt Nam, Tài chính, Tư pháp, NN&PTNT, Công Thương, Ngoại giao, KH&CN, Nội vụ, TN&MT, LĐTB&XH, GD&ĐT,VHTT&DL, Thanh tra Chính phủ và Bộ KH&ĐT. Nhóm thứ hai, đạt kết quả từ trên 70% đến dưới 80%, gồm 4 Bộ: Xây dựng, TT&TT, Y tế, Giao thông vận tải.

Năm 2018, không bộ nào có kết quả PAR INDEX  dưới 70%. Tuy nhiên, chỉ có 8 bộ có Chỉ số PAR INDEX trên mức giá trị trung bình. NHNN Việt Nam đạt chỉ số PAR INDEX cao nhất với kết quả là 90,57%; Bộ Giao thông vận tải đạt mức thấp nhất với giá trị 75,13%.

PAR INDEX năm 2018 của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có giá trị trung bình đạt 76,92%. Có 29 địa phương đạt kết quả cao hơn giá trị trung bình, trong số đó có 9 địa phương đạt kết quả trên 80%; 60/63 địa phương đạt kết quả trên 70%.

Tỉnh Quảng Ninh tiếp tục giữ vững ngôi dẫn đầu bảng xếp hạng với kết quả đạt 89,06%, cao hơn 5,08% so với đơn vị đứng ở vị trí thứ 2 là thành phố Hà Nội, đạt 83,98%.

Tỉnh Đồng Tháp đã có những cải thiện đáng kể, đạt 83,71/100 điểm, tăng 1,80 điểm so với năm 2017, đứng ở vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng tổng hợp và đứng đầu 13 tỉnh, thành phố khu vực Tây Nam Bộ…

Trong nhóm 10 tỉnh, thành phố dẫn đầu bảng xếp hạng còn có sự xuất hiện lần đầu tiên của 2 địa phương đó là Long An và Ninh Bình. Đây cũng là sự ghi nhận xứng đáng cho nỗ lực không ngừng trong tổ chức triển khai nhiệm vụ cải cách hành chính thời gian qua tại các đơn vị này.

Trong nhóm 5 địa phương đứng cuối bảng xếp hạng, Phú Yên là địa phương đứng cuối bảng với kết quả Chỉ số đạt 69,53%.

Chỉ số hài lòng 2018: Sơn La quán quân, Hà Giang cuối bảng

Theo Báo cáo Chỉ số hài lòng về sự phục vụ hành chính năm 2018 (SIPAS), tỉ lệ người dân, tổ chức hài lòng với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước nói chung là 82,99%; hài lòng với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước của 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nằm trong khoảng 69,98-97,88%.

Như vậy, tỉnh có SIPAS cao nhất là 97,88% và thấp nhất là 69,98%.

Năm yếu tố cơ bản của quá trình và kết quả cung ứng dịch vụ hành chính công được đánh giá trong khuôn khổ Chỉ số SIPAS 2018, gồm: (1) Tiếp cận dịch vụ, (2) thủ tục hành chính, (3) công chức, (4) kết quả dịch vụ, (5) việc tiếp nhận, xử lý ý kiến góp ý, phản ánh, kiến nghị, nhận được sự hài lòng của người dân, tổ chức nói chung trong cả nước lần lượt là: 80,62%, 86,40%, 85,10%, 88,13% và 74,07%.

So với năm 2017, Chỉ số SIPAS nói chung cả nước trong năm 2018 tăng hơn 2%.

Tỉnh Sơn La dẫn đầu về Chỉ số SIPAS, tiếp theo là Ninh Bình, Hưng Yên và Hà Tĩnh. Đứng cuối bảng là tỉnh Hà Giang, Cao Bằng và Bình Định.

Bộ máy cồng kềnh, nhiều trung gian là nguyên nhân phát sinh tiêu cực, tham nhũng

Phát biểu tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình cho biết năm 2018 tiếp tục ghi nhận những nỗ lực cải cách của các bộ, ngành trong triển khai thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với phương châm hành động là "Kỷ cương, liêm chính, hành động, sáng tạo, hiệu quả". Trên cơ sở đó, các bộ, ngành đã tập trung cải thiện các chỉ số môi trường kinh doanh, chú trọng thực hiện các giải pháp cải thiện mạnh mẽ các chỉ số; thúc đẩy tăng năng suất lao động, sức cạnh tranh trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa bàn thuộc phạm vi quản lý với quyết tâm đưa Việt Nam vào nhóm ASEAN 4 về năng lực cạnh tranh và môi trường kinh doanh.

Phó Thủ tướng Thường trực cũng cho rằng mặc dù các bộ, ngành, địa phương đã có nhiều cố gắng, nỗ lực để đạt kết quả tích cực trong công cuộc cải cách nhưng công tác CCHC thời gian qua vẫn còn những tồn tại, hạn chế đã được chỉ ra trong kết quả 2 chỉ số nói trên trong năm 2018.

Một số bộ, ngành, địa phương vẫn chưa quan tâm đúng mức đến công tác CCHC, chưa thể hiện vai trò trách nhiệm của người đứng đầu trong việc thúc đẩy cải cách, chưa tạo chuyển biến rõ rệt trong hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước. Cải cách TTHC vẫn còn tình trạng bộ, ngành, địa phương ban hành các quy định TTHC trái thẩm quyền; tình trạng giải quyết hồ sơ chậm, muộn, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp.

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả CCHC, khắc phục những tồn tại, bất cập trong thời gian vừa qua, Phó Thủ tướng Thường trực đề nghị các bộ, ngành, địa phương căn cứ kết quả Chỉ số PAR INDEX năm 2018, kiểm điểm lại việc thực hiện công tác cải cách hành chính thời gian qua, đề ra các biện pháp khắc phục; khuyến khích, nhân rộng cách làm mới, mô hình hay tạo động lực thúc đẩy cải cách. Phải sử dụng hiệu quả kết quả Chỉ số SIPAS năm 2018 trong chỉ đạo, điều hành CCHC tại bộ, ngành, địa phương và có biện pháp phù hợp để nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công cho người dân, tổ chức.

Phó Thủ tướng Thường trực lưu ý các bộ, ngành, địa phương tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế; nâng cao chất lượng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm tính hợp pháp, đồng bộ, thống nhất, khả thi của hệ thống pháp luật; tập trung rà soát, đơn giản hóa TTHC, trọng tâm là rà soát, cắt giảm thực chất điều kiện kinh doanh, danh mục sản phẩm hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành, các TTHC đang là rào cản liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh; phát huy vai trò của Hội đồng Tư vấn Cải cách TTHC của Thủ tướng Chính phủ trong việc tăng cường đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp, bộ, ngành, địa phương, qua đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị Thủ tướng tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, TTHC liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống người dân.

Cùng với đó, đẩy mạnh việc đổi mới, sắp xếp và kiện toàn tổ chức các cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn; hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp và gắn kết chặt chẽ với các chính sách tinh giản biên chế trên cơ sở tổ chức triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ được giao tại các chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII).

"Việc giải quyết TTHC phải nhanh gọn, với các quy định cụ thể như nhận hồ sơ bao nhiêu ngày thì phải trả cho dân, trễ hẹn phải xin lỗi và giải thích lý do vì sao. Nếu chúng ta vẫn để bộ máy cồng kềnh, qua nhiều khâu trung gian thì đây là nguyên nhân phát sinh tiêu cực, nhũng nhiễu, kể cả tham nhũng vặt, tồn tại cơ chế xin-cho, tình trạng "chạy dự án", "cò dự án" vẫn còn. Có dự án giải quyết 1-2 năm mới xong thủ tục cho doanh nghiệp, người dân", Phó Thủ tướng Thường trực nêu rõ và yêu cầu tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; tăng cường thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp sai phạm trong tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ, công chức, viên chức. Triển khai có hiệu quả các chính sách về tinh giản biên chế theo quy định.

Công bố 2 chỉ số quan trọng về cải cách hành chính - Ảnh 1.

Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình cũng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai có hiệu quả các nhóm nhiệm vụ về xây dựng, phát triển Chính phủ điện tử, thường xuyên rà soát, nâng cao chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4, chú trọng đầu tư xây dựng và vận hành có hiệu quả cổng dịch vụ công và hệ thống thông tin một cửa điện tử; thực hiện hiệu quả việc xử lý hồ sơ công việc trên môi trường điện tử và gửi nhận văn bản điện tử trong nội bộ các cơ quan hành chính Nhà nước, nội bộ của từng bộ, ngành, địa phương.

CÙNG CHUYÊN MỤC
XEM